Khi trẻ không được đến trường…

Thời gian qua, dịch COVID-19 bùng phát trở lại và diễn biến phức tạp gây ảnh hưởng nặng nề đến nhiều mặt của đời sống xã hội, trong đó có ngành Giáo dục-Đào tạo. Kế hoạch năm học, chương trình và nội dung giáo dục phải thay đổi theo hướng chỉ còn phần cốt lõi, gần 20 triệu trẻ em, học sinh, sinh viên phải tạm dừng đến trường, chuyển sang học trực tuyến, học qua truyền hình trong nhiều tháng liên tiếp; ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục, đào tạo, tới tư tưởng, tâm lý của đội ngũ nhà giáo và học sinh, sinh viên. Với tuổi học trò, ngoài hoạt động chủ đạo là học tập, học sinh cũng cần giao tiếp, kết nối với bạn bè, tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí lành mạnh ngoài môi trường xã hội. Tuy nhiên, đại dịch COVID-19 đã làm thay đổi tất cả từ phương thức học tập, giao tiếp đến kết nối xã hội. Việc không được đến trường, các mối quan hệ bạn bè, hoạt động vui chơi ngoài trời bị gián đoạn; cùng với đó, trẻ phải học trực tuyến nhiều giờ, lặp đi lặp lại, bó hẹp trong gian khiến trẻ dễ rơi vào hụt hẫng, cảm thấy cô độc, sợ hãi.
Mặt khác trong thời gian học trực tuyến, cả thầy và trò đều bị động trong việc dạy và học online khiến cho học sinh gặp khó khăn trong tiếp thu kiến thức. Thêm vào đó, chất lượng đường truyền kém, phương tiện học tập không đảm bảo… cũng làm cho học sinh căng thẳng, mệt mỏi, giảm trí nhớ. Ở nhà nhiều, tiếp cận với phương tiện internet nhiều nhưng thiếu kiểm soát dễ khiến trẻ lạm dụng game, rối loạn cảm xúc, kích động, hoang mang lo lắng. Nghiên cứu của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh về các vấn đề sức khỏe tinh thần của sinh viên cũng cho thấy: 56,8% thiếu tập trung và không hứng thú học tập; 48% thấy tự ti, mất phương hướng; 56,2% bị rối loạn giấc ngủ và 35,7% thấy tính tình thay đổi, hay cáu gắt, lo lắng không lý do.
Do vậy, việc đưa trẻ trở lại trường là vấn đề cấp thiết cần thực hiện sớm. Việc xác định đúng thời điểm, xay dựng lộ trình đưa học sinh quay lại trường học và cùng hướng dẫn cụ thể về việc tổ chức các hoạt động giáo dục vừa đảm bảo các nội dung chuyên môn, đồng thời, đảm bảo công tác phòng, chống dịch cho thấy sự quan tâm của Đảng và nhà nước để học sinh quay trở lại trường học một cách an toàn, thuận lợi nhất.
Nhất quán tinh thần đưa trẻ đến trường an toàn
Phát biểu của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tại cuộc họp diễn ra vào sáng ngày 17/2 nhấn mạnh sau hơn 2 năm phòng, chống dịch COVID-19 đến nay các điều kiện, năng lực phòng, chống dịch trong nước đã khác với tỷ lệ bao phủ vaccine cao; đã có thuốc, kinh nghiệm và phác đồ điều trị; ý thức của người dân khá tốt… , từng bước thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh.
Trong khi đó, việc mở cửa trường học là yêu cầu bức thiết bởi trẻ ở nhà lâu sẽ kéo theo những hệ luỵ khôn lường cho xã hội. Thời gian qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ, ngành, địa phương đã có nhiều cố gắng để sớm cho các trẻ đến trường an toàn, theo tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Sau hơn 2 tuần thực hiện cho trẻ trở lại trường, tình hình thực tế có nhiều thay đổi so với dự kiến ban đầu cần đánh giá lại những việc cần lưu ý, điều chỉnh hoặc phải chuẩn bị thêm các điều kiện để trẻ đến trường an toàn.
Theo các nghiên cứu khoa học, virus SARS-CoV-2 vẫn tiếp tục xuất hiện biến chủng, vì vậy, tiêm phòng vaccine là biện pháp quan trọng để giảm tỷ lệ lây nhiễm hoặc nếu lây nhiễm sẽ giảm tỷ lệ chuyển nặng, phải nhập viện, tử vong.
Đối với trẻ em nhóm tuổi dưới 12 tuổi, yếu tố giảm tỷ lệ lây nhiễm chưa có do chưa được tiêm vaccine. Vì vậy, nếu trường học mở lại, khả năng lây nhiễm của trẻ em sẽ tăng rất nhanh, trong khi tỷ lệ chuyển nặng rất thấp. Đây là hai yếu tố cần tính toán để có các biện pháp ứng phó phù hợp, kiểm soát hiệu quả, giảm tối đa nguy cơ lây nhiễm không để vượt khả năng của ngành y tế trong xét nghiệm, điều trị, cách ly ca mắc trong trường học.
Đánh giá chung về tình hình triển khai, chủ trương đưa học sinh quay trở lại trường để học trực tiếp được xã hội, nhà trường, phụ huynh, các chuyên gia... ủng hộ, đồng tình, được đánh giá đúng lúc và kịp thời. Các địa phương thống nhất chủ trương và đã chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, hiệu quả nhiều giải pháp được đưa ra thúc đẩy mở cửa trường học an toàn trên tinh thần chủ động, không mất cảnh giác, không cực đoan; thống nhất chỉ đạo và thực hiện trên cả nước nhưng không áp dụng máy móc, cứng nhắc giữa các địa phương có cấp độ dịch khác nhau, giữa đô thị và nông thôn....
Qua đó có thể thấy được quan điểm đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong việc công tác đào tạo nguồn nhân lực trong tương lai, nguồn lao động trong phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, việc mở cửa trường học cần đảm bảo đưa tất cả trẻ nhỏ và thanh thiếu niên, nhất là trẻ em yếu thế được quay trở lại trường; tạo điều kiện để các em làm quen lại với môi trường học tập trực tiếp. Các trường học cũng cần vượt ra khỏi phạm vi học tập để giúp phục hồi sức khỏe tâm thần và thể chất, sự phát triển về mặt xã hội và dinh dưỡng cho trẻ em./.
D.K

TỰ HÀO DƯỚI LÁ CỜ ĐẢNG CỘNG SẢN QUANG VINH

Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi đã ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc. Người rất ngưỡng mộ cuộc cách mạng đó, kính phục V.I.Lênin và đã tham gia nhiều hoạt động ủng hộ, bảo vệ cách mạng Nga; tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Những hoạt động cách mạng phong phú đó đã giúp Người từng bước rút ra những bài học quý báu và bổ ích cho sự lựa chọn con đường cách mạng của mình.
Chủ nghĩa Mác - Lênin và các tài liệu tuyên truyền của Nguyễn Ái Quốc được giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam đón nhận; lôi cuốn những người yêu nước Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản; làm dấy lên cao trào đấu tranh mạnh mẽ, sôi nổi khắp cả nước, trong đó giai cấp công nhân ngày càng trở thành một lực lượng chính trị độc lập. Sự truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào quần chúng và phong trào công nhân, làm cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi phải có tổ chức đảng chính trị lãnh đạo. Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX; là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước; là kết quả của quá trình lựa chọn, sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử và của quá trình chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của một tập thể chiến sĩ cách mạng, đứng đầu là đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta.
Cho đến nay, trải qua 92 mùa Xuân dưới lá cờ Đảng quang vinh, Dân tộc ta, Nhân dân ta đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác để đất nước có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Từ mùa Xuân năm 1930 đến mùa Xuân năm 2022 là cả một hành trình không ngừng ngơi nghỉ của Đảng thường xuyên tự xây dựng, chỉnh đốn, làm mới chính mình, làm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh toàn diện.
Qua hơn 35 năm đổi mới, Đảng ta đã mở các cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với những nghị quyết mang dấu ấn lịch sử, như Nghị quyết Hội nghị Trung ương ba khóa VII về đổi mới, chỉnh đốn Đảng (tháng 6/992); Nghị quyết Hội nghị Trung ương sáu (lần 2) khóa VIII về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng (tháng 02/1999); các nghị quyết, kết luận của các Hội nghị Trung ương bốn khóa XI (tháng 01/2012), khóa XII (tháng 01/2018), khóa XIII (tháng 10/2021) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Điểm mới của xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong các nhiệm kỳ gần đây là vừa hướng vào tăng cường, nâng cao bản lĩnh, trình độ, năng lực, phẩm chất, uy tín của Đảng, vừa chủ động đấu tranh, ngăn chặn, phòng, chống các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng hệ thống chính trị. Công tác xây dựng Đảng thật sự được đặt đúng tầm, vị trí then chốt trong toàn bộ sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, bảo đảm tính đồng bộ giữa xây dựng Đảng và hệ thống chính trị với đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế, là sự đột phá, khởi nguồn cho mọi thắng lợi.
Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của hơn 35 năm đổi mới đất nước đều bắt nguồn từ một nguyên nhân cơ bản là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, mà sâu xa là Đảng luôn được chăm lo xây dựng trong sạch, vững mạnh toàn diện. Đại hội XIII của Đảng đã xác định mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI đưa nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu đó đòi hỏi Đảng phải tiếp tục tự nâng mình lên ngang tầm với thực tiễn, phải xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, từ chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức đến cán bộ.
Mỗi tổ chức đảng và đảng viên đã và đang được tiếp thêm những năng lượng mới, sinh lực mới, có sức vươn mạnh mẽ hơn nhờ động lực thúc đẩy của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, bảo đảm không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, góp phần quan trọng đưa đất nước vượt qua khó khăn của đại dịch Covid-19, thực hiện thích ứng an toàn và tạo nền tảng cho phát triển bền vững trong tương lai./.
N.H

THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT CỦA CHÍNH PHỦ NĂM 2022

Năm 2021, đại dịch Covid-19 tiếp tục gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi quốc gia trên thế giới. Trong nước, làn sóng dịch Covid-19 bùng phát từ cuối tháng 4/2021 với biến chủng mới có tốc độ lây lan nhanh chóng, nguy hiểm diễn biến phức tạp tại nhiều địa phương, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, an toàn của người dân và phát triển kinh tế- xã hội. Trong bối cảnh đó, với sự lãnh đạo thống nhất của cả hệ thống chính trị và sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ; sự đồng lòng, nhất trí của các cấp, các ngành, các địa phương; sự ủng hộ, chia sẻ và tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, kinh tế-xã hội nước ta đã đạt được kết quả đáng khích lê.
Bước sang năm 2022 cả hệ thống chính trị và nhân dân cả nước tiếp tục thực hiện trạng thái xã hội ‘bình thường mới’ để thực hiện mục tiêu kép vừa đảm bảo công tác phòng, chống dịch Covid-19, bảo vệ sức khỏe người dân, vừa đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội… Đứng trước thời cơ, thách thức của năm 2022, Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 01/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán ngân sách Nhà nước năm 2022. Với 6 quan điểm, trọng tâm và 12 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu. Trong đó, Chính phủ yêu cầu các cấp, các ngành, các địa phương phải tiếp tục đổi mới, chủ động thích ứng, hành động quyết liệt, hiệu quả hơn theo tinh thần chủ đề điều hành "Đoàn kết kỷ cương, chủ động thích ứng, an toàn hiệu quả, phục hồi phát triển".
6 quan điểm, trọng tâm chỉ đạo điều hành, cụ thể:
1. Bám sát các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, căn cứ vào tình hình thực tiễn để chỉ đạo, điều hành chủ động, linh hoạt, sáng tạo, đúng hướng, có trọng tâm, trọng điểm và có hiệu quả. Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; Nêu cao tinh thần tự lực, tự cường; Tiếp tục xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có khả năng chống chịu với tác động tiêu cực từ bên ngoài; Nỗ lực phấn đấu với quyết tâm cao, biến thách thức thành cơ hội; Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương; khắc phục hạn chế, yếu kém của năm 2021, nhất là các tồn tại, hạn chế kéo dài; Thực hiện thành công, toàn diện mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch năm 2022, tạo nền tảng vững chắc để phát triển bền vững.
2. Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19; Kiên định thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch phù hợp, bảo vệ tối đa sức khỏe, tính mạng của nhân dân cùng với tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, kịp thời hỗ trợ người dân, doanh nghiệp. Xác định tiêm chủng vắc xin, thuốc điều trị Covid-19 và nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân là các yếu tố quyết định trong kiểm soát dịch bệnh thành công để phục hồi phát triển KTXH.
3. Chủ động nắm chắc tình hình, tận dụng mọi cơ hội để thúc đẩy quá trình phục hồi, phát triển KTXH và duy trì động lực tăng trưởng trong dài hạn, khai thác các động lực tăng trưởng mới. Tập trung thực hiện 03 trọng tâm: Khôi phục, thúc đẩy sản xuất kinh doanh; Đẩy mạnh xuất khẩu; đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và huy động mọi nguồn lực để phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng chiến lược. Kiên trì giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, nâng cao tính tự chủ, khả năng chống chịu, thích ứng của nền kinh tế. Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế thực chất, hiệu quả. Phát triển thương mại điện tử, kinh tế số và các mô hình kinh doanh mới dựa trên ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số. Tập trung xử lý các vấn đề tồn đọng, kéo dài nhiều năm.
4. Tiếp tục ưu tiên hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với phân bổ nguồn lực hợp lý, nâng cao năng lực, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Chú trọng nguồn lực con người, phát triển văn hóa, giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với đẩy mạnh ứng dụng và phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động.
5. Bảo đảm an sinh xã hội, an dân, thực hiện tốt chính sách xã hội đối với người có công, khôi phục và ổn định thị trường lao động, tạo việc làm, cơ cấu lại lực lượng lao động, nâng cao thu nhập, đời sống cho người dân. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi. Quản lý chặt chẽ, sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Tăng cường thông tin, tuyên truyền, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tạo đồng thuận xã hội. Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.
6. Bảo đảm ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; Tiếp tục củng cố, tăng cường, giữ vững quốc phòng, an ninh. Chủ động hội nhập quốc tế, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và thu hút nguồn lực bên ngoài cho phát triển đất nước và nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
12 nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu, cụ thể:
1. Tập trung thực hiện linh hoạt, hiệu quả mục tiêu vừa phòng, chống dịch Covid-19, vừa phục hồi, phát triển KTXH (phấn đấu tăng trưởng GDP đạt 6-6,5%, GDP bình quân đầu người đạt 3.900 USD; tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân khoảng 4%, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế).
2. Xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, phát triển KTXH, thích ứng linh hoạt, an toàn với dịch Covid-19.
3. Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; tạo nền tảng phát triển kinh tế số, xã hội số.
4. Phát triển nhanh hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại.
5. Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực gắn với đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ, đổi mới sáng tạo.
6. Thúc đẩy phát triển liên kết vùng, khu kinh tế và phát triển đô thị, kinh tế đô thị, đẩy nhanh hơn nữa tiến độ lập, phê duyệt các quy hoạch.
7. Phát triển văn hóa hài hòa và ngang tầm với phát triển KTXH; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; tiếp tục phát huy hơn nữa giá trị văn hóa, con người Việt Nam.
8. Quản lý, sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên; tăng cường bảo vệ môi trường; chủ động phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu: Chú trọng phát triển các ngành kinh tế biển, điện gió ngoài khơi; quản lý bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước, bảo đảm an ninh nguồn nước.
9. Tăng cường công tác xây dựng Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; siết chặt kỷ luật, kỷ cương; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Tinh giản biên chế gắn với sắp xếp tổ chức bộ máy, cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; xác định vị trí việc làm làm cơ sở tinh giản và đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ; thực hiện nghiêm quy định về tiếp công dân, khiếu nại, tố cáo.
10. Củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
11. Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, góp phần củng cố vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
12. Đẩy mạnh thông tin tuyên truyền, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tạo đồng thuận xã hội.
Dưới sự chỉ đạo, lãnh đạo sát sao của Đảng, những quyết sách mạnh mẽ của Quốc hội và bàn tay chèo lái vững vàng của Chính phủ, những khó khăn đã từng bước được tháo gỡ. Những hậu quả nặng nề do đại dịch gây ra từng bước được khắc phục, các chủ trương, chính sách, biện pháp đúng và trúng được triển khai kịp thời chính là những yếu tố quan trọng để dịch bệnh từng bước được kiểm soát, bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người dân, sản xuất kinh doanh dần được phục hồi. Để tiếp tục kết nối những thành quả ấy trong năm 2022 và thời gian tới đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân cùng đồng lòng, chung sức quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà Nghị quyết số 01/NQ-CP năm 2022 của Chính phủ đã đề ra./.
N.H

NGƯỜI DÂN KHÔNG NÊN TỰ Ý MUA THUỐC ĐIỀU TRỊ COVID-19

Theo nhận định của một số chuyên gia ngành y tế, trước tình hình số ca mắc Covid-19 cộng đồng cao như hiện nay thì nhu cầu mua thuốc càng tăng cao và các đối tượng không ngừng đưa thuốc, vật tư y tế không rõ nguồn gốc vào tiêu thụ để thu lợi bất chính. Từ việc ngày càng có nhiều các F0 tự điều trị tại nhà, các loại thuốc điều trị Covid-19 đang được rao bán và tìm mua rất sôi động trên môi trường mạng Internet. Không ít người dân có tâm lý phòng ngừa khi trở thành F0, sẵn sàng chi tiền để mua các loại thuốc được cho là tự chữa và điều trị Covid-19.
Theo Bộ Y tế, công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả thuộc lĩnh vực y tế quản lý vẫn còn nhiều hạn chế, nhiều vụ việc vi phạm vẫn xảy ra và không ngừng gia tăng ở nhiều nơi. Đặc biệt, lợi dụng tình hình dịch bệnh Covid-19, một số đối tượng đã cố tình tìm cách đưa vào thị trường Việt Nam nhiều mặt hàng liên quan đến phòng chống dịch bệnh không rõ nguồn gốc, xuất xứ, không bảo đảm chất lượng, an toàn như đồ bảo hộ chống dịch, khẩu trang y tế, thuốc điều trị Covid-19, máy tạo oxy, kit xét nghiệm Covid-19, nước sát khuẩn, găng tay y tế đã qua sử dụng,... gây ảnh hưởng lớn đến công tác phòng, chống dịch, đồng thời ảnh hưởng lớn đến lòng tin của người tiêu dùng.
Cục Quản lý Dược, Bộ Y tế khẳng định, việc mua, bán, sử dụng các thuốc không được phép lưu hành trên thị trường là vi phạm nghiêm trọng quy định của Luật dược và tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người dân, giảm hiệu quả phòng chống dịch, nguy cơ thuốc giả, thuốc nhập lậu.
Hiện tại, thuốc kháng virus được sử dụng trong phác đồ điều trị Covid-19 tại Việt Nam mới chỉ có 3 loại: Molnupiravir, favipiravir, remdesivir... Tuy nhiên, theo hướng dẫn mới nhất của Bộ Y tế cập nhật ngày 12/12/2021 thì trong các thuốc có tác dụng kháng virus SARS-CoV2, chỉ có favipiravir hàm lượng 200/400mg là được phép sử dụng đường uống với liều lượng do bác sĩ chỉ định; thuốc remdesivir chỉ được sử dụng tại cơ sở y tế và cũng tùy thuộc vào giai đoạn của bệnh; thuốc molnupiravir đang được dùng trong các chương trình thí điểm điều trị có kiểm soát, thuốc được cấp phát miễn phí cho bệnh nhân mắc Covid-19 nhẹ và vừa, không được bán trên thị thường.
Để tăng cường và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả đối với các mặt hàng thuộc lĩnh vực y tế quản lý, Bộ Y tế vừa có công văn đề nghị UBND các tỉnh, thành phố, các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ Y tế tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức và toàn thể người dân trong việc tham gia phát hiện, đấu tranh với các hành vi vi phạm quy định của pháp luật về phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả.
Do đó, Người dân tuyệt đối không tự ý tìm mua và dùng thuốc trị Covid-19 được quảng cáo, rao bán tràn lan trên thị trường. Điều này có thể dẫn đến việc lạm dụng, không mang lại lợi ích cho việc điều trị mà tiềm ẩn nhiều nguy cơ tác dụng bất lợi cho sức khỏe người dùng, thậm chí có thể gây cho bệnh thêm trầm trọng./.
N.H

Không mất cảnh giác, lơ là trong phòng, chống dịch bệnh Covid-19

Hiện nay, Chúng ta đang dần chuyển trạng thái từ “không Covid” sang “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát có hiệu quả dịch Covid-19”. Các hoạt động xã hội, sản xuất kinh doanh đang từng bước được khôi phục. Trong hoàn cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp, khó lường, cho dù dịch bệnh đã được cơ bản kiểm soát trên phạm vi toàn quốc, nhưng tuyệt đối không được chủ quan, lơ là, mất cảnh giác để tự bảo vệ mình, bảo vệ cho người thân và an toàn cho xã hội. Thực hiện nghiêm nguyên tắc 5K cùng ý thức của mỗi người sẽ là căn cơ cho phòng, chống dịch. Số ca nhiễm mới mỗi ngày có xu hướng giảm xuống, số ca ra viện tăng. Tại một số địa phương, khi dịch Covid-19 được khống chế, các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ dần được khôi phục.
Những kết quả đó thực sự không dễ gì có được, mà là sự nỗ lực cao độ của cả hệ thống chính trị, của mọi người dân, là mồ hôi, xương máu của lực lượng tuyến đầu. Kết quả đó vẫn chưa thực sự chắc chắn bởi chúng ta chưa đạt được miễn dịch cộng đồng. Trong tình hình như vậy, nếu chủ quan, thiếu cảnh giác thì “một con sâu cũng sẽ làm rầu nồi canh” đe dọa đến thành quả kỳ công mà đất nước chúng ta đã đạt được trong công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Hiện nay với các biến chủng mới “siêu lây nhiễm” Delta, Omicron… là thách thức lớn cho ngành y, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của toàn dân.

Trong “trạng thái bình thường mới”, một số hoạt động đang dần trở lại bình thường, nhưng đại dịch Covid-19 vẫn tiếp tục đòi hỏi các giải pháp kiểm soát chặt chẽ. Mỗi người dân cần tự ý thức, hết sức cân nhắc để tự hạn chế và kiểm soát nhu cầu như nhu cầu đi lại, nhu cầu giao tiếp, tụ tập nơi đông người… của bản thân. Phòng dịch tốt thì không phải chống dịch, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã nêu rõ. Một đồng phòng dịch hiệu quả thì không mất hàng triệu đồng chống dịch. Ý thức với bản thân và cộng đồng phải được đặt lên hàng đầu, là “lá chắn thép” trong phòng, chống dịch.
Tuy nhiên thực trạng hiện nay, có một bộ phận người dân sau khi tiêm đủ 2 mũi vắc-xin nảy sinh tâm lý chủ quan, lơ là, tự tin cơ thể đã miễn dịch, virus không thể tấn công nên không thực hiện nghiêm túc các biện pháp phòng ngừa y tế, ngay cả khi sinh hoạt hoặc làm việc trong môi trường có nguy cơ lây nhiễm cao; thậm chí chê bai người khác khi thấy họ nghiêm túc tuân thủ nguyên tắc 5K. Việc thường xuyên chứng kiến các ca mắc mới được điều trị khỏi bệnh cũng khiến một số người bắt đầu có thái độ coi thường bệnh dịch, coi Covid-19 chỉ là một dạng cúm mùa, không có gì đáng sợ, không cần phải ngăn ngừa, đề phòng! Cá biệt có người lại muốn bị mắc bệnh cho xong, vì cho rằng đã mắc bệnh rồi thì rất ít nguy cơ tái nhiễm, bản thân không cần phải lo lắng, sợ hãi về dịch bệnh nữa. Những nhận thức, suy nghĩ, hành xử thiếu suy nghĩ và tiêu cực như vậy đã và đang ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của cộng đồng, bất luận trong điều kiện nào thì trên thực tế, nếu không tuân thủ nghiêm túc các khuyến cáo phòng, chống dịch bệnh, người tiêm đủ hai liều vắc-xin, thậm chí ngay cả khi đã tiêm mũi vắc-xin tăng cường vẫn có thể nhiễm bệnh. Việc thêm người bị mắc Covid-19 sẽ làm tăng gánh nặng cho hệ thống y tế ở địa phương, chính quyền cơ sở, bản thân người mắc F0 sẽ gặp không ít phiền hà, bất cập trong sinh hoạt, sức khỏe bị suy giảm. Những nghiên cứu công bố thời gian qua cho thấy, người từng mắc Covid-19 đã khỏi bệnh vẫn có nguy cơ bị tái nhiễm, khi đó hậu quả là rất khó lường. Đối với trường hợp người đã tiêm đủ vắc-xin dù không bị mắc Covid-19, vẫn có thể trở thành trung gian lây bệnh sang người khác, mà cận kề nhất chính là người thân trong gia đình, đồng nghiệp cùng cơ quan, đơn vị.
Vì vậy, trước nguy cơ mới của dịch bệnh mỗi người dân cần phát huy tinh thần chủ động, ý thức trách nhiệm, tuân thủ nghiêm các khuyến cáo trong phòng, chống dịch bệnh, kịp thời phát hiện, cảnh báo, ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực, những hành vi có nguy cơ làm lây lan dịch bệnh, nhất là trong bối cảnh ngày càng có nhiều hoạt động giao thương quốc tế diễn ra, nguy cơ dịch bệnh ngày càng cao hơn. Các hành vi vi phạm cần bị xử lý nghiêm. Chúng ta tin rằng, với sự quyết tâm, nỗ lực của cả hệ thống chính trị, sự đoàn kết, đồng lòng của mọi tầng lớp nhân dân, Việt Nam sẽ sớm ngăn chặn, đẩy lùi đại dịch Covid-19, sức khỏe của cộng đồng được bảo đảm, các hoạt động kinh tế-xã hội từng bước được phục hồi./.
N.H

BỊ LỪA CHUYỂN TIỀN QUA INTERNET BANKING CÓ LẤY LẠI ĐƯỢC KHÔNG?

Hiện nay có rất nhiều hành vi lừa đảo qua mạng xã hội vô cùng phức tạp với chiêu trò tinh vi, những kẻ gian thường lợi dụng lòng tin người dùng để lừa đảo chuyển tiền qua Internet Banking, gây thiệt hại to lớn về tài sản cho người bị lừa. Vì sao vẫn còn nhiều người bị lừa đảo qua hình thức này, phải kể đến những nguyên nhân phổ biến dưới đây:
- Đặt cọc tiền khi mua hàng online. Đây là cách rất phổ biến có thể thấy trên các trang mạng điện tử như Facebook, Zalo… thông thường người bán sẽ yêu cầu người mua chuyển khoản trước ½ số tiền đơn hàng để giữ hàng và giao hàng cho người nhận. Tuy nhiên, nhiều khách hàng còn chủ quan không kiểm tra rõ thông tin người bán mà đã vội vàng chuyển tiền và thật không may đã bị mất trắng.
- Bên lừa đảo thông qua việc liên lạc qua tổng đài, qua các trang mạng xã hội mà nạn nhân tham gia để thông báo về việc nạn nhân này được trúng thưởng một chương trình nào đó, rồi yêu cầu nạn nhân phải chuyển một số tiền để hoàn tất thủ tục nhận quà.
- Hack tài khoản Facebook, Zalo... của người dùng, sau đó giả danh liên lệ với người thân hoặc bạn bè trên tài khoản facebook, zalo đó mượn tiền, nhờ chuyển tiền vào tài khoản Ngân hàng nhằm thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản… Thông thường hành vi này khiến người dùng rất dễ “sập bẫy” thường không cảnh giác.
MỌI NGƯỜI NÊN LÀM GÌ KHI GẶP PHẢI CÁC TRƯỜNG HỢP TRÊN?
Việc đầu tiên nên GỌI ĐIỆN LÊN TỔNG ĐÀI NGÂN HÀNG để thông báo phía Ngân hàng về sự việc, sau khi tiếp nhận sự việc, phía ngân hàng sẽ tạm thời phong tỏa tài khoản và tiến hàng xác minh sự việc. Việc này được thực hiện càng sớm càng tốt.
Theo khoản 4 Điều 36 thông tư 23/2010/TT-NHNN, nếu lệnh thanh toán sai địa chỉ khách hàng, sai tên, số hiệu tài khoản cả người nhận Lệnh thanh toán (đúng tên nhưng sai số hiệu và ngược lại..), thì ngân hàng sẽ tạm thời phong tỏa tài khoản cho đến khi làm rõ khắc phục những sai sót trên.
Nếu sau khi phong tỏa mà số tiền của bạn vẫn còn trong tài khoản thì việc lấy lại tiền sẽ rất dễ dàng. Tuy nhiên, nếu số tiền trong tài khoản của kẻ lừa đảo đã bị rút, hoặc người nhận nhầm không có ý định trả thì đã đến lúc bạn cần phải BÁO ĐẾN CƠ QUAN CÔNG AN.
Kèm theo đơn là các chứng từ đã chuyển khoản cũng như các thông tin trao đổi qua lại giữa bạn và người kia trong những lần giao dịch trước và sau khi chuyển tiền. Sau khi tiếp nhận sự việc cơ quan có thẩm quyền sẽ điều tra xác minh và bảo vệ quyền lợi cho bạn.
VIỆC NHẬN LẠI TIỀN BỊ LỪA ĐẢO CHUYỂN TIỀN QUA INTERNET BANKING MẤT BAO LÂU?
Hiện nay không có thời gian cụ thể cho việc nhận lại tiền khi bị lừa đảo bởi vụ việc này còn phụ thuộc vào rất nhiều nguyên nhân như kẻ lừa đảo là tổ chức hay cá nhân. Nếu là cá nhân cơ quan điều tra sẽ dễ dàng tìm ra kẻ phạm tội. Tuy nhiên đối với lừa đảo có tổ chức thì sẽ cần một thời gian để cơ quan pháp luật truy tìm và xử lý, số tiền bạn bị lừa có thể về trong vòng 1 tuần, hoặc thậm chí là vài tháng, vài năm, cho tới khi nào cá nhân, tổ chức đó bị tìm thấy.
ĐIỀU QUAN TRỌNG NHẤT LÀ TRƯỚC KHI CHUYỂN TIỀN HÃY KIỂM TRA LẠI THÔNG TIN NGƯỜI NHẬN VÀ TỐT NHẤT NÊN GỌI HỎI TRỰC TIẾP NGƯỜI CẦN NHẬN ĐỂ XÁC THỰC NHÉ!
P.H

Ý THỨC - CÁCH GIÚP CHÚNG TA ĐẨY LÙI ĐẠI DỊCH COVID-19

Dịch bệnh Covid-19 hiện đang lan rộng trên 213 quốc gia và vùng lãnh thổ; tác động sâu sắc, toàn diện đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam. Tính đến ngày 07/8/2021, trên thế giới đã có trên 202 triệu người mắc bệnh, trong đó có hơn 4 triệu ca tử vong. Tại Việt Nam đã ghi nhận 197.175 ca nhiễm, trong đó đang điều trị 131.823 ca, khỏi bệnh 62.332 ca và có 3.016 ca đã tử vong .
Trên địa bàn tỉnh Long An, tình hình dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến phức tạp, khó lường. Tính đến ngày 07/8/2021, số ca mắc trên địa bàn tỉnh Long An là 9.184, số ca tử vong là 104 ca (đứng thứ 3 sau TP.HCM và Bình Dương) . Trước diễn biến phức tạp của tình hình dịch bệnh, cấp ủy, chính quyền các cấp đã triển khai quyết liệt, mạnh mẽ nhiều phương án, biện pháp ngăn ngừa sự lây lan của dịch bệnh trong cộng đồng; cùng với hệ thống chính trị và các địa phương trên cả nước quyết tâm chống lại đại dịch theo tinh thần “Chống dịch như chống giặc” hy sinh lợi ích kinh tế trước mắt để bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người dân lên trên hết. Bênh cạnh đội ngũ y, bác sĩ, lực lượng Công an, Quân đội không ngại khó khăn, ngày đêm, gian khổ tuần tra, canh gác cùng với ngành Y tế tích cực, chủ động khoanh vùng, dập dịch với quyết tâm cao nhất; việc tổ chức sàng lọc, cách ly người đến vùng dịch hoặc có nguy cơ nhiễm bệnh được tích cực triển khai; những khuyến cáo, tuyên truyền vận động người dân nâng cao ý thức tự bảo vệ mình, bảo vệ cộng đồng được triển khai rộng khắp.
Tuy nhiên, vẫn còn một số người dân thiếu ý thức, lơ là chủ quan trong việc chấp hành các quy định trong công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19 của Chính phủ, Bộ Y tế và của tỉnh. Từ khi thực hiện Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ (ngày 08/7/2021) đến nay, lực lượng chức năng đã tiến hành tuần tra, kiểm soát xử phạt vi phạm hành chính gần 1.600 cá nhân, cơ sở kinh doanh vi phạm trong công tác phòng chống dịch Covid-19 với số tiền hơn 1.5 tỷ đồng. Trong đó có gần 365 trường hợp bị xử phạt vi phạm không đeo khẩu trang, gần 1.050 trường hợp ra ngoài đường tụ tập đông người, hơn 180 cơ sở bán hàng không thực hiện quy tắc “5K”. Đồng thời xử phạt 7.5 triệu đồng 1 trường hợp trốn khỏi khu cách ly và 15 triệu đồng đối với 2 trường hợp đưa tin sai sự thật về công tác phòng, chống dịch; nhắc nhở gần 5.000 cá nhân, cơ sở kinh doanh vi phạm cùng với những hành vi không mang khẩu trang khi ra đường, tụ tập đông người, buôn bán không thực hiện “5K”… Trong đó có những trường hợp cố tình không khai báo y tế, thường xuyên lui tới những khu vực công bố có dịch để mua bán, tổ chức đám, tiệc trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 của Chính phủ như vụ việc của vợ chồng anh V.T.P (41 tuổi), ngụ thị trấn Thủ Thừa, tỉnh Long An bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thủ Thừa khởi tố vụ việc làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm truyền nhiễm cho người theo Điều 240 của Bộ Luật hình sự. Mới đây ngày 08/8/2021, UBND huyện Đức Huệ cũng ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tổng số tiền 210 triệu đồng đối với 21 người trên địa bàn huyện vì tụ tập, tổ chức ăn nhậu giữa lúc đang giãn cách xã hội phòng chống dịch bệnh Covid-19… Ngoài ra, xuất hiện nhiều đối tượng lợi dụng diễn biến tình hình của dịch bệnh, thường xuyên đăng tải, chia sẽ các thông tin thiếu chính xác, lan truyền những biện pháp phòng ngừa dịch bệnh không đúng, không có căn cứ khoa học gây hoang mang trong dư luận, làm ảnh hưởng đến công tác phòng, chống dịch của cơ quan chức năng.
Thời gian qua để bảo vệ tính mạng sức khỏe Nhân dân, hạn chế thấp nhất trường hơp tử vong, bảo vệ hệ thống y tế và khả năng điều trị, cứu chữa bệnh nhân dân, bảo vệ bằng được “vùng xanh”, khống chế và đẩy lùi dịch bệnh tại các địa phương thuộc “vùng đỏ” nhanh chóng trở lại trạng thái bình thường, UBND tỉnh Long An đã chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, quyết liệt hơn nữa các biện pháp giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 tại Công văn số 7426, 7427/UBND-VHXH, ngày 27/7/2021, Công văn số 7658/UBND-VHXH, ngày 01/8/2021 tuyệt đối không để người dân ra đường khi không cần thiết, kiên quyết xử lý nghiêm người vi phạm theo quy định; phát huy tối đa vai trò của tổ COVID cộng đồng, Ban Chỉ đạo phòng chống dịch bệnh nguy hiểm đối với người các cấp chủ động trong công tác quản lý, kiểm tra, giám sát người về từ vùng dịch và thực hiện các biện pháp dự phòng theo Chỉ thị số 2415/CT-UBND ngày 27/7/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh; lực lượng Công an phối hợp với đơn vị có có liên quan cùng với chính quyền các cấp tổ chức tuần tra, kiểm soát 24/24 giờ tại các tuyến đường để kịp thời phát hiện xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm; các sở, ban, ngành, các cơ quan báo, đài chủ động thông tin kịp thời tình hình dịch bệnh, đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền các quy định pháp luật cũng như kết quả, nổ lực phấn đấu công tác chống dịch để Nhân dân biết, đồng thuận và ủng hộ và tích cực tham gia, tuân thủ các biện pháp phòng, chống dịch bệnh…
Có thể thấy, chính quyền các cấp đang nổ lực, đẩy mạnh những giải pháp căn cơ để ngăn chặn, đẩy lùi dịch bệnh nhưng những con số về các trường hợp bị xử phạt cho thấy ý thức của một bộ phận người dân còn quá kém, chưa nhận thức được tính chất và mức độ nguy hiểm của dịch bệnh, chỉ thấy những lợi ích trước mắt mà không thấy những hậu quả nghiêm trọng dịch bệnh gây ra. Hơn lúc nào hết, chúng ta hãy nâng cao ý thức vì mọi người, để mọi người cùng chính quyền đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao và thực hiện có hiệu quả hơn nữa các quy địch của Chính phủ, ngành Y tế và của tỉnh trong công tác phòng, chống dịch. Đó là những khuyến cáo mà bất kỳ ai cũng có thể làm và tuyên truyền để mọi người cùng thực hiện như có chế độ sinh hoạt lành mạnh; cài đặt ứng dụng Bluezone, NCOVI theo dõi sức khỏe, khai báo y tế toàn dân theo đúng quy định; tuyên truyền và thực hiện nghiêm túc yêu cầu “5K”; không đăng tải, chia sẽ những thông chưa được kiểm chứng, thông tin sai sự thật; nâng cao tinh thần cảnh giác, kịp thời báo cáo các trường hợp người nước ngoài, người bỏ trốn khỏi khu cách ly, nghi ngờ hoặc mắc bệnh… để cơ quan chức năng xử lý kịp thời đối với các hành vi sai phạm cũng như áp dụng các biện pháp để khoanh vùng, dập dịch nhanh và hiệu quả.
Sự quay trở lại của đợt dịch thứ 4 này diễn ra với tính chất, quy mô lớn hơn so với các đợt dịch trước. Với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, mỗi người dân hãy bình tĩnh, tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, chung sức, đồng lòng cùng với các cấp, ngành chức năng quyết tâm đẩy lùi dịch bệnh “Mỗi người dân hãy là một tuyên truyền viên, chiến sĩ tích cực trên mặt trận phòng chống dịch bệnh Covid-19”.
Bình Minh - Tổng hợp

VÕ NGUYÊN GIÁP - VỊ ANH HÙNG DÂN TỘC, ĐẠI TƯỚNG KIỆT XUẤT CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Đại tướng Võ Nguyên Giáp có tên khai sinh Võ Giáp, bí danh là Văn, sinh ngày 25/8/1911 ở làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình nhà nho nghèo, giàu lòng yêu nước.
Từ năm 1925 - 1926, Võ Nguyên Giáp tham gia phong trào học sinh ở Huế, năm 1927 tham gia Đảng Tân Việt cách mạng; năm 1930, bị địch bắt và kết án 2 năm tù. Sau khi ra tù, tiếp tục hoạt động tuyên truyền, gây dựng cơ sở cách mạng trong thanh niên, học sinh; năm 1936, hoạt động trong phong trào dân chủ bán hợp pháp của Đảng ở Hà Nội; là biên tập viên báo của Đảng như: “Tiếng nói của chúng ta”, “Tiến lên”, “Tập hợp”, “Thời báo”, “Tin tức”... Tham gia phong trào Đông Dương đại hội; được bầu làm Chủ tịch Ủy ban báo chí Bắc Kỳ.
Tháng 6/1940, Võ Nguyên Giáp được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và được cử sang Trung Quốc gặp Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đầu năm 1941, Đồng chí về nước, tham gia công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang ở căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng; năm 1942, phụ trách Ban xung phong Nam tiến, tuyên truyền giác ngộ Nhân dân, tổ chức con đường quần chúng từ Cao Bằng về Thái Nguyên. Tháng 12/1944, Đồng chí được Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân - Đội quân chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tháng 4/1945, tại Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ, Đồng chí được cử vào Ủy ban Quân sự cách mạng Bắc Kỳ. Từ tháng 5/1945, là Tư lệnh các lực lượng vũ trang cách mạng mới, thống nhất thành Việt Nam giải phóng quân; tháng 6/1945, được Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ thành lập Ủy ban Chỉ huy lâm thời Khu giải phóng Việt Bắc. Tháng 8/1945, được Hội nghị toàn quốc Đảng Cộng sản Đông Dương cử vào Ban Chấp hành Trung ương và là Ủy viên Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tham gia Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc. Tại Đại hội Quốc dân Tân Trào, Đồng chí được bầu vào Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam; là Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và được bổ sung vào Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Tháng 1/1946, Đồng chí được bầu là đại biểu Quốc hội khóa I; tháng 3/1946, là Chủ tịch Quân sự ủy viên Hội, Ủy viên trong Chính phủ Liên hiệp; khi thành lập Quân ủy Trung ương, được cử làm Bí thư Quân ủy Trung ương; tháng 10/1946, Đồng chí là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, được Chủ tịch Hồ Chí Minh ủy quyền làm Tổng Chỉ huy Quân đội Nhân dân và Dân quân tự vệ Việt Nam.
Tháng 1/1948, Đồng chí được phong quân hàm Đại tướng, Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tháng 2/1951, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, Đồng chí được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị. Từ tháng 9/1955 đến tháng 12/1979, Đồng chí là Phó Thủ tướng, kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Tháng 9/1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, Đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương, được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.
Tháng 12/1976, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, Đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương, được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, VI của Đảng, Đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương. Từ tháng 1/1980, Đồng chí là Phó Thủ tướng thường trực; từ tháng 4/1981 đến tháng 12/1986, là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Phó Thủ tướng Chính phủ). Đồng chí liên tục được bầu làm Đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII. Ở giai đoạn này Đồng chí đã cùng tập thể lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội lãnh đạo toàn dân, toàn quân thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tiến hành công cuộc đổi mới đất nước.
Năm 1991, Đại tướng nghỉ hưu ở tuổi 80. Từ năm 1992 đến lúc từ trần, Đại tướng là Chủ tịch danh dự Hội Cựu chiến binh Việt Nam; Chủ nhiệm Đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam”, kiêm cố vấn chương trình khoa học cấp Nhà nước về “Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh”; Chủ tịch danh dự Hội khoa học lịch sử Việt Nam; Chủ tịch danh dự Hội khuyến học Việt Nam; Chủ tịch danh dự Quỹ hỗ trợ sáng tạo khoa học kỹ thuật Việt Nam; Chủ tịch danh dự Hội Cựu giáo chức Việt Nam. Do công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, uy tín lớn trong và ngoài nước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế.
Trọn cuộc đời gắn bó với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, ở Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn sáng ngời phẩm chất cao quý của người chiến sĩ cách mạng kiên trung, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, suốt đời tận tụy hy sinh, một lòng, một dạ phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng cộng sản. Dù trong lúc cách mạng gặp thuận lợi hay khó khăn, Đồng chí vẫn tin tưởng, thủy chung, son sắt với Đảng, với Nhân dân, đúng như lúc sinh thời Đồng chí đã từng nói “Tôi sống ngày nào, cũng là vì đất nước ngày đó”.
Sinh thời Đại tướng là người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trước, trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong cuộc kháng chiến chín năm, Đại tướng được sống và làm việc bên cạnh Bác Hồ, được Bác Hồ giáo dục, rèn luyện và trao cho nhiều trọng trách trên các lĩnh vực quân sự, chính trị, ngoại giao... Đại tướng đã nỗ lực phấn đấu học tập ý chí, tư tưởng, đạo đức, tác phong, lối sống của vị Lãnh tụ thiên tài Hồ Chí Minh, luôn luôn tu dưỡng rèn luyện, nói và làm theo gương Bác Hồ vĩ đại. Trong quá trình hoạt động cách mạng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp rất coi trọng tổng kết thực tiễn và chính từ đó Đồng chí càng hiểu sâu sắc hơn tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Với ba chuyên luận: “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam”, “Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh”, “Thế giới đổi thay, tư tưởng Hồ Chí Minh còn sống mãi”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã góp phần đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống, trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong thời kỳ mới.
Với 30 năm là Tổng Tư lệnh Quân đội, Bí thư Quân ủy Trung ương, Đồng chí luôn tỏ rõ là nhà quân sự xuất chúng, nhà lãnh đạo có uy tín lớn của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta; được cán bộ, chiến sĩ Quân đội yêu mến, kính trọng, suy tôn là “Người anh Cả” của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Từ Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân - đội quân chủ lực đầu tiên chỉ với 34 chiến sĩ và vài chục khẩu súng trường, súng kíp thô sơ, rồi từng bước lớn lên thành những trung đoàn, đại đoàn thiện chiến, kiên cường chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược. Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” là minh chứng sinh động về sự trưởng thành, lớn mạnh của Quân đội ta dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Đảng, Bác Hồ kính yêu và sự chỉ huy tài tình của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Lần đầu tiên trên thế giới, quân đội của một nước thuộc địa nhỏ ở châu Á đã đánh bại quân đội của một cường quốc châu Âu.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp là nhà chỉ huy quân sự có tài thao lược kiệt xuất, bậc thầy về chiến lược, chiến thuật quân sự. Người cầm quân rất cẩn trọng trong so sánh tương quan lực lượng đôi bên, luôn chủ động bắt buộc đối phương bị động thay đổi thế cờ, đánh theo cách đánh của ta, vì thế mà phá sớm về chiến thuật, chiến dịch, chiến lược, dẫn đến thất bại hoàn toàn của địch. Điển hình, đó là quyết định chuyển phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” giành thắng lợi trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Trong các chiến dịch lớn có tính chất quyết định, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn thể hiện sự quyết đoán, sắc bén và có tư duy quân sự, chiến thuật, tài chỉ huy đặc biệt.
Không chỉ là một thiên tài quân sự, trực tiếp tổ chức, kiến tạo những trận đánh lớn, đánh bại những danh tướng hàng đầu của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, Ðại tướng Võ Nguyên Giáp có công lao đóng góp to lớn trong việc hình thành, phát triển học thuyết quân sự Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, đó là đường lối chiến tranh Nhân dân, lấy chính nghĩa thắng bạo tàn. Học thuyết kế thừa và phát huy những bài học giá trị lịch sử của cha ông chống giặc ngoại xâm trong thời đại mới. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, đứng đầu là Lãnh tụ tối cao Hồ Chí Minh, cùng với Quân đội và Nhân dân Anh hùng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã điều hành cuộc chiến tranh toàn dân thần kỳ của dân tộc Việt Nam đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật quân sự. Đường lối ưu việt của cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, kháng chiến trường kỳ đã đánh bại và làm phá sản hoàn toàn đường lối chiến lược tốc chiến, tốc thắng và các chiến lược khác của những đế quốc hùng mạnh nhất (Pháp và Mỹ) ở thế kỷ XX. Đây là sự kiện có một không hai trong lịch sử quân sự thế giới.
Không chỉ tỏa sáng rực rỡ trong lĩnh vực quân sự, Đại tướng còn là một trong những nhà văn hóa lớn của Việt Nam. Đại tướng đã dành nhiều tâm sức cho việc viết hồi ký và lịch sử. Những tác phẩm của Đại tướng, như: “Từ nhân dân mà ra”, “Những năm tháng không thể nào quên”, “Chiến đấu trong vòng vây”, “Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử”, “Tổng Hành dinh trong mùa xuân toàn thắng”, “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam”... đã giúp người đọc cả trong và ngoài nước càng hiểu sâu hơn về bản sắc, truyền thống văn hóa, nguồn gốc sức mạnh của dân tộc Việt Nam, càng thêm yêu mến, khâm phục đất nước và con người Việt Nam. Ở những lĩnh vực khác như giáo dục - đào tạo, khoa học - kỹ thuật, báo chí, ngoại giao, văn hóa, lịch sử…, Đồng chí đều có nhiều đóng góp quan trọng, thực sự là con người tài - đức vẹn tròn, văn - võ song toàn.
Hơn 80 mươi năm hoạt động cách mạng, cuộc đời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, dân tộc ta và Quân đội ta. Ở Đại tướng luôn sáng ngời những phẩm chất nhân cách của nhà văn hóa lớn, một tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; đặc biệt là 6 đức tính cần phải có của các vị tướng do Bác Hồ chỉ ra “Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung” luôn được Đại tướng Võ Nguyên Giáp thực hiện đầy đủ, trọn vẹn. Đại tướng là tấm gương sáng về sự liêm khiết, giản dị, khoan dung, nhân hậu, khiêm tốn, ham học hỏi, đoàn kết, sống có tình nghĩa, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng bào. Tình thương yêu con người của Đại tướng được hòa quyện với tình yêu quê hương, đất nước và đã để lại trong nhân dân Việt Nam cùng bạn bè quốc tế hình ảnh về một nhà lãnh đạo đức độ, tài năng, một nhà hoạt động thực tiễn xuất sắc, một chiến sĩ cách mạng kiên trung, suốt đời tận tụy hy sinh phấn đấu phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước, không màng chút danh, lợi riêng tư. Chính vì điều này Đại tướng được Nhân dân hết lòng kính trọng, suy tôn là vị “Đại tướng của Nhân dân”. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội mến phục, suy tôn là “Người anh Cả” duy nhất của Quân đội ta, xứng đáng là “Chính ủy của các Chính ủy, Tư lệnh của các Tư lệnh, Tướng của các Tướng”, “Tổng Tư lệnh biết quý từng giọt máu mỗi chiến binh”. Thế giới cũng rất nể phục nhân cách, đức độ của Đại tướng, tôn vinh Đại tướng là Anh hùng dân tộc của Nhân dân Việt Nam.
Năm 2021 là kỷ niện 110 năm ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đây là dịp để chúng ta tôn vinh, tri ân những công lao đóng góp to lớn của Đại tướng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và phong trào cách mạng thế giới; đồng thời, góp phần giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, lòng yêu nước, tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho các tầng lớp Nhân dân. Đại tướng sẽ mãi là tấm gương sáng để mọi người học tập và noi theo góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Quang Minh - Biên tập

Lặng lẽ nơi đầu chiến tuyến….

Khi dịch bùng phát trở lại với những biến chủng mới có tốc độ lây nhiễm nhanh hơn, mạnh hơn, nguy hiểm hơn và khó kiểm soát hơn đã xuất hiện và lây lan trên địa bàn tỉnh.
Long An là tỉnh có vị trí giao thương giữa TP.Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Tây Nam Bộ vì vậy mỗi ngày tại các chốt này có hàng nghìn phương tiện từ các nơi đổ về. Hằng ngày, có hàng trăm nghìn lượt người di chuyển qua địa bàn tỉnh, trong đó, có hơn 36.000 công nhân lao động đi làm việc tại các khu, cụm công nghiệp tại TPHCM. Ngược lại, cũng có gần 20.000 công nhân ở TPHCM và các tỉnh đến làm việc tại các khu, cụm công nghiệp của Long An. Đa phần trong số này chưa được kiểm soát mầm bệnh.Và theo đó là hàng nghìn người phải thực hiện quy trình kiểm tra, chính vì thế mà các thành viên tại chốt có rất ít thời gian nghỉ ngơi. Có mặt tại các chốt kiểm soát y tế mới thấy hết sự vất vả của các lực lượng đang thực hiện nhiệm vụ nơi đây. Giữa cái nắng, cái mưa thất thường của thời điểm giao mùa, trước áp lực công việc không ngừng nghỉ, mỗi cán bộ y tế, chiến sĩ, lực lượng công an làm việc tại các chốt kiểm dịch vẫn giữ nụ cười thân thiện, hướng dẫn tận tình, tạo điều kiện tốt nhất cho tài xế, hành khách hoạt động trên hành trình, cũng như đảm bảo an toàn sức khỏe cho bản thân, cộng đồng. Bên cạnh đó, điều kiện làm việc, nghỉ ngơi cũng không được đảm bảo. Theo Đồng chí Nguyễn Minh Hoàng trưởng chốt Tuyến QLN2 địa phận xã Tân Thành, huyện Tân Thạnh tỉnh Long An giáp xã Mỹ An, huyện Tháp Mười tỉnh Đồng Tháp chia sẽ “ Ở vị trí đóng chốt, do cách xa khu dân cư nên nơi ăn, chốn ở của lực lượng làm nhiệm vụ còn nhiều thiếu thốn. Ban ngày, trời nắng gắt. Chiều tối, lại chuyển mưa giông lớn. Nhiều hôm, anh em vừa làm nhiệm vụ, vừa phải gia cố lều trại. Vì mưa quá lớn kèm theo gió lốc mạnh tróc mái lều, lán trại ướt sũng không có chỗ để nằm nghỉ ngơi sau ca trực”. Tại các điểm chốt kiểm dịch biên giới giáp ranh với nước bạn Campuchia, trong điều kiện vật chất vô cùng thiếu thốn điểm đóng quân tạm bợ, không có điện, không có nước sinh hoạt các cán bộ, chiến sĩ bộ đội, công an đang ngày đêm dãi nắng dầm sương, tạo thành những “lá chắn thép” ở nơi tuyến đầu trong công tác phòng, chống dịch. Trong tình hình diễn biến dịch bệnh ngày càng phức tạp, lực lượng trên các tuyến biên giới đã được triển khai quyết liệt hơn bao giờ hết từ khi áp dụng lệnh cấm nhập cảnh người nước ngoài vào Việt Nam. Trên những đường mòn, lối mở, cửa khẩu, bước chân của lực lượng biên phòng tuần tra không nghỉ, xuyên đêm, chặn đứng nguy cơ lây lan dịch bệnh từ biên giới, với họ, nhiều ngày qua, biên giới trở thành nhà, lều bạt dã chiến thành nơi nghỉ ngơi.
Để đảm bảo tốt công tác phòng dịch, tại mỗi chốt kiểm soát dịch bệnh đều được bố trí các cán bộ y tế, chiến sĩ tham gia nhiệm vụ. Tuy nhiên, do tính chất, mức độ, cường độ làm việc cao, nên việc chia ra 3 ca liên tục 24/24 giờ nhưng chỉ diễn ra tương đối có khi ca trước phải lùi lại hỗ trợ ca sau thực hiện nhiệm vụ. Với tinh thần trách nhiệm trong công tác, làm nhiệm vụ là anh em chấp nhận gác hết việc riêng, không được về nhà. Thậm chí có người khi hay tin người thân mất không thể trở về do đang làm nhiệm vụ. Vậy mới thấy được quyết tâm ngăn chặn nguy cơ lây lan dịch bệnh. Các cán bộ, chiến sĩ tại các điểm chốt chặn đã làm việc xuyên đêm, không để lọt phương tiện vận tải, người từ nơi khác đến mà không qua kiểm tra, khai báo. Song song với công tác kiểm soát dịch, lực lượng cảnh sát giao thông thực hiện tốt công tác phân luồng giao thông, đảm bảo hoạt động đi lại của người dân được diễn ra bình thường.
Thực hiện Chỉ thị 16 khi cả nước bước vào "giai đoạn vàng" trong trận chiến kiểm soát, đẩy lùi dịch Covid-19 thì các cán bộ, đội ngũ y tế, chiến sĩ bộ đội, công an thuộc đơn vị tỉnh; các huyện, thành phố, thị xã trên địa bàn tỉnh Long An đã không quản ngại khó khăn, nguy hiểm. Tạm gác việc riêng, tạm xa gia đình, họ làm việc bằng cả tinh thần trách nhiệm dù đối diện với nhiều nguy cơ lây nhiễm. Dù khó khăn, vất vả nhưng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ của tỉnh luôn vững vàng, là chỗ dựa vững chắc cho người dân trong “cuộc chiến” này… Tinh thần làm việc khẩn trương, nghiêm túc và sự hướng dẫn tận tình của cán bộ, chiến sĩ trong những ngày qua tại các chốt kiểm soát y tế đã thực sự để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp với nhân dân khi làm thủ tục qua chốt.
D.K

MẤY VẤN ĐỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC CẦN LƯU Ý KHI SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI

Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII xác định “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh” là biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị. Nếu không nhận diện đầy đủ bản chất của hiện tượng này thì không thể có “thuốc” chữa kịp thời và đồng nghĩa với tăng nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Việc sử dụng mạng internet và mạng xã hội cũng vậy. Người sử dụng có trách nhiệm sẽ mang lại ý nghĩa thiết thực cho nhiều chủ thể, đầu tiên là chính bản thân mình, sau đó là những người xung quanh cũng như với các tổ chức, cá nhân, ở tầm cao là với Đảng, Nhà nước khi đó sẽ góp phần hạn chế xảy ra các vấn đề vi phạm pháp luật, tạo nên môi trường mạng lành mạnh, văn minh, tiến bộ. Tuy nhiên, không phải ai sử dụng mạng xã hội cũng ý thức được vấn đề này, bởi việc sử dụng mạng xã hội ngày càng “hời hợt”, việc nhìn thấy cái đúng bị xâm phạm không hẳn họ sẽ bảo vệ, thấy sai không phải lúc nào cũng đấu tranh, bài trừ; những giá trị tốt đẹp không được tuyên truyền, chia sẽ mà bị lấn át bởi những thông tin xấu độc, câu like, giật gân… Điều này nếu không kịp uốn nắn, chấn chỉnh sẽ gây ra những hệ lụy khó lường bởi không gian mạng tuy được coi mà “môi trường ảo” nhưng những tác động của nó thì lại rất thật và có thể liên quan đến nhiều người, nhiều chủ thể, trong một thời gian dài.
Ngày 17/6/2021, Bộ Thông tin và Truyền thông có Quyết định số 874/QĐ-BTTTT về việc ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội quy định cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan Nhà nước sử dụng mạng xã hội ngoài việc chấp hành nội quy của cơ quan, tổ chức trong cung cấp thông tin lên mạng xã hội tại Điều 5, còn phải chấp hành nghiêm các quy định tại Điều 4 như: “…Chia sẻ những thông tin có nguồn chính thống, đáng tin cậy; Có các hành vi, ứng xử phù hợp với những giá trị đạo đức, văn hóa, truyền thống của dân tộc Việt Nam, không sử dụng từ ngữ gây thù hận, kích động bạo lực, phân biệt vùng miền, giới tính, tôn giáo; Không đăng tải những nội dung vi phạm pháp luật, các thông tin xúc phạm danh dự, nhân phẩm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khác, sử dụng ngôn ngữ phản cảm, vi phạm thuần phong mỹ tục; tung tin giả, tin sai sự thật, quảng cáo, kinh doanh dịch vụ trái phép... gây bức xúc trong dư luận xã hội, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội; Khuyến khích sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền, quảng bá về đất nước - con người, văn hóa tốt đẹp của Việt Nam, chia sẻ thông tin tích cực, những tấm gương người tốt, việc tốt; Vận động người thân trong gia đình, bạn bè, những người xung quanh tham gia giáo dục, bảo vệ trẻ em, trẻ vị thành niên sử dụng mạng xã hội một cách an toàn, lành mạnh”. Những quy định cụ thể của Bộ quy tắc tạo điều kiện cho người dùng mạng xã hội nói chung, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tự điều chỉnh, tiết chế hành vi của mình không chỉ phù hợp với văn hóa công vụ trong các cơ quan hành chính Nhà nước mà còn phù hợp với chuẩn đạo đức xã hội, góp phần tuyên truyền, giáo dục những giá trị tốt đẹp về con người Việt Nam.
Ở một khía cạnh khác, việc sử dụng mạng xã hội có trách nhiệm giúp mỗi cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan Nhà nước không chỉ bảo vệ mình còn là góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ. Bởi hiện nay, một số phần tử xấu sử dụng không gian mạng để chống phá Đảng và Nhà nước, gây chia rẽ giữa nhân dân với Đảng, hòng phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nếu nhiều người sử dụng không gian mạng không tin theo, không phát tán, không tùy tiện chia sẻ và thực hiện việc đấu tranh phản bác trong điều kiện của mình thì các thông tin xấu độc không còn môi trường để tồn tại, âm mưu của các phần tử đó sẽ bị phá sản. Mặt khác, khi mỗi người chủ động làm lan tỏa các thông tin tích cực, các tấm gương sáng, các câu chuyện đẹp… thì sẽ góp phần định hướng nhận thức và tư tưởng người đọc, tác động đến tình cảm và hành động của nhiều người khác, đồng thời làm loãng các thông tin tiêu cực đi, qua đó giúp môi trường mạng trong lành hơn, tích cực hơn. Đó cũng chính là cách để thể hiện yếu tố văn hóa, văn minh và tinh thần thượng tôn pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động khi tham gia mạng xã hội. Tức là, tính trách nhiệm để bảo đảm rằng mỗi người làm việc trong cơ quan Nhà nước thể hiện đúng cương vị, vai trò của mình dù ở môi trường hay bối cảnh nào và tạo điều kiện cho Nhân dân giám sát, đánh giá hành vi của mỗi cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan Nhà nước.
Trở lại vấn đề, ở một góc độ nào đó nguyên nhân của việc thấy đúng không bảo vệ thấy sai không đấu tranh khi dùng mạng xã hội có thể xuất phát từ một số nguyên nhân như: chưa nhận thức được vai trò và ý nghĩa của mạng xã trong xây dựng môi trường mạng trong sạch lành mạnh, đấu tranh với những thông tin xấu độc, những hành vi vi phạm pháp luật cũng như lan truyền, chia sẽ những thông tin tích cực; tâm lý hiếu kỳ, thích tạo được sự chú ý, “like” và chia sẽ những thông tin “giật gân” trong khi chưa biết được tính xác thực và độ tin cậy của thông tin; một bộ phận có tâm lý ngại va chạm, “dĩ hòa vi quý”, “chuyện ai nấy lo”, “đèn nhà ai nấy rạng”; một số đối tượng lợi dụng mạng xã hội để chống phá Đảng, Nhà nước... Suy cho cùng, hiện tượng “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh” thực chất chỉ là một biểu hiện tâm lý dễ lây lan và không phải là bản tính cố hữu. Nhưng để “có trách nhiệm” khi dùng mạng xã hội trước hết mỗi cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan Nhà nước sử dụng mạng xã hội cần:
(1) Có tư duy phản biện, thẩm định, đánh giá, phân tích, đối chiếu, so sánh… khi tiếp nhận thông tin. Cần thiết phải tìm cách khẳng định tính xác thực của thông tin chứ không dễ dàng tin theo và làm lan tỏa thông tin đó khi chưa biết rõ mức độ tin cậy của thông tin.
(2) Khi đăng tải các bình luận, ý kiến nhận xét có văn hóa, có trách nhiệm và có tính xây dựng về những vấn đề mà bản thân cho rằng nên có ý kiến hoặc đang được dư luận xã hội quan tâm nhất là với các vụ việc đang “nóng”, cần tránh tạo tâm lý kích động hoặc dẫn dắt dư luận một cách sai lệch, khi cần có ý kiến thì phải hợp lý, thể hiện bằng văn phong đúng mực, tránh để bị quy chụp, xuyên tạc về thái độ, tư cách của người cán bộ, đảng viên nói chung.
(3) Tuyên truyền, động viên để mọi người xung quanh mình, hiểu rõ và thực hiện các quy chuẩn, quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động khi sử dụng mạng xã hội. Với các cơ quan có quy chuẩn thì nên khuyến khích mọi người thực hiện theo quy chuẩn đó; hoặc gợi ý mọi người những cách thức sử dụng đúng pháp luật, văn minh, tiến bộ, hợp lý bằng các hình thức dễ hiểu, dễ thực hiện.
(4) Trên trang mạng internet và mạng xã hội của mình, mỗi người nên tích cực kêu gọi, động viên mọi người chấp hành tốt các quy định của pháp luật, các chủ trương, chính sách, các cuộc vận động, nhất là các nội dung có tính thời sự, đang cần sự tham gia của đông đảo người dân, các vấn đề đang có ý kiến khác nhau…
(5) Chủ động phản ánh với các cơ quan có chức năng khi phát hiện, đồng thời tích cực đấu tranh phản bác những trang, những thông tin sai trái, xuyên tạc, tiêu cực…
(6) Luôn gương mẫu, chuẩn mực khi phát ngôn, đăng tải hình ảnh, chia sẻ thông tin… trên mạng mạng xã hội; không đưa thông tin một cách lập lờ để dẫn dắt dư luận nhằm mục đích công kích cá nhân hoặc tổ chức với dụng ý không tốt…
(7) Tích cực giới thiệu, quảng bá các hình ảnh, thông tin tốt, có ích về địa phương, cơ quan, đơn vị,… làm lan tỏa những gương người tốt việc tốt, các câu chuyện có giá trị nhân văn trên trang cá nhân hoặc các trang cộng đồng.
Tóm lại, việc sử dụng mạng xã hội có nhiều ý nghĩa thực tiễn cho cá nhân, tổ chức, xã hội, đất nước, dân tộc… Do đó, mỗi cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan Nhà nước phải quan tâm thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật khi sử dụng mạng xã hội không chỉ giúp việc sử dụng có ích và hiệu quả hơn cho bản thân mà còn lan tỏa đến với nhiều người khác, đem lại nhiều điều thiết thực cho đơn vị, địa phương, xã hội và đất nước.
Quang Minh - sưu tầm, tổng hợp